Tin tức

CƠ KHÍ VIỆT NAM 10 NĂM QUA VÀ VÀI Ý KIẾN TƯ VẤN CHO NHỮNG NĂM TỚI

CƠ KHÍ VIỆT NAM 10 NĂM QUA VÀ VÀI Ý KIẾN TƯ VẤN CHO NHỮNG NĂM TỚI 

Kĩ sư Đào Phan Long( P. Chủ tịch- Tổng thư ký HHDNCKVN) có bài phát biểu về ngành Cơ khí Việt nam 10 năm qua và định hướng phát triển những năm tiếp theo.

Tôi có điều kiện được làm chủ nhiệm cộng tác với nhiều cán bộ Viện nghiên cứu, giám đốc, tổng giám đốc, tiến sỹ hiện đang công tác trong ngành cơ khí để thực hiện nhiều đề tài nghiên cứu khoa học thuộc lĩnh vực cơ khí do Bộ Công nghiệp, nay là Bộ công thương giao qua nhiều năm (từ 2002 đến nay), do vậy tôi cùng chia sẻ với các đồng nghiệp của mình trong việc nhìn lại kết quả của sản xuất cơ khí Việt Nam (không kể khối FDI) thời kỳ 10 năm qua (2000 - 2010). Chúng tôi cho rằng kết quả đầu tư, sản xuất kinh doanh và sản phẩm chính của ngành cơ khí nước ta hiện mới chỉ mới đáp ứng khoảng 20 -25 % nhu cầu thị trường trong nước chứ chưa thể đạt được mức cao hơn như con số đã công bố của một số cơ quan. Ngay con số giá trị xuất khẩu các sản phẩm cơ khí nôi tại của Việt Nam cũng chưa đúng với thực tế, vì đã lấy cả sản phẩm xuất khẩu của khối FDI coi là của cơ khí Việt Nam. Với lý lẽ đơn giản là: Các con số đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu do cơ khí Việt Nam làm ra chỉ có được từ con số giá trị đầu tư cơ sở vật chất, trang bị công nghệ mới, đào tạo nguồn nhân lực… cho ngành, bao gồm giá trị xây dựng được bao nhiêu nhà máy cơ khí mới, đầu tư chiều sâu, mở rộng bao nhiêu nhà máy cũ…? Để làm rõ hơn bức tranh công nghiệp cơ khí Việt Nam đang "khởi sắc" trong giai đoạn 2003 đến 2007 cũng như đang chững lại từ năm 2008 đên nay, có thể tóm tắt trình bầy rõ hơn một số nguyên nhân để góp phần tư vấn một số vấn đề để nhà nước xem xét tập trung chỉ đạo trong thời gian tới.

Chúng ta cần nhìn thẳng vào thực tế: Tại hầu hết các quốc gia phát triển trên thế giới từ trước đến nay, hàng năm phải sử dụng một lượng vốn rất lớn từ các nguồn khác nhau cho đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư phát triển công nghiệp, nông nghiệp cũng như các ngành kinh tế khác nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của đời sống xã hội. Đối với các nước đang phát triển cũng không thể không học theo cách thức đó.

Huy động được các nguồn vốn trong, ngoài nước để ®Çu tư phát triển công nghiệp, kinh tế, văn hóa, xã hội sẽ mang lại những thành tựu kinh tế cũng như tạo công ăn việc làm, an sinh xã hội rất lớn đối với từng quốc gia. Trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập hiện nay, đặc biệt là đối với các nước là thành viên của WTO, việc đồng thời bảo vệ được các lợi ích quốc gia mà vẫn thực hiện được các cam kết quốc tế,đòi hỏi lãnh đạo các nước này phải có những sách lược khôn khéo và thực tế, biết đặt lợi ích quốc gia lên trên hết.

Thực tế tại một số nước phát triển đã là thành viên WTO từ lâu, họ có kinh nghiệm đưa ra những chính sách rất khôn khéo và thực tế để bảo vệ lợi ích quốc gia của mình như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc… Tại các quốc gia, hầu như các dự án đầu tư xây dựng các công trình công nghiệp, hạ tầng kinh tế… đều do các nhà thầu của nước sở tại thực hiện. Các nhà thầu nước ngoài khó có điều kiện để đặt chân vào lãnh địa này, nhưng nếu không võ đoán có thể thấy qua 10 năm ở Việt Nam thì ngược lại. Phần vì công nghiệp cơ khí của ta yếu sau nhiều năm không được đầu tư kể từ khi Bộ Cơ khí & Luyện kim không còn nữa từ năm 1990.

Bên cạnh những thành tích bước đầu, nếu khảo sát và xem xét kỹ lưỡng và toàn diện hệ thống các doanh nghiệp cơ khí nước ta thì thấy chất lượng của sự phát triển cơ khí còn nhiều bất cập trên nhiều mặt. Nổi lên hiện nay là ngành cơ khí Việt Nam rất thiếu vốn để đổi mới trang bị công nghệ, thiếu sự hợp tác liên ngành, bị nước ngoài chèn ép ở nhiều mặt, đội ngũ nguồn nhân lực thiếu...

Nếu tôinhớ không nhầm và đã phát biểu với lãnh đạo cấp cao của Đảng và Chính phủ từ năm 2000: “trong 10 năm 1980 – 1990 đầu tư cho phát triển cơ khí không bằng giá trị làm ½ nhà máy xi măng công suất 2500 tấn /năm”, thế nhưng sau mười năm, giai đoạn 2000 – 2010 thì nhà nước đã ưu tiên dành vốn đầu tư cho ngành cơ khí thì sao?, có tăng được hơn nhiều không?, tăng bao nhiêu hiện chúng ta cũng chưa có con số cụ thể. Ngoài ngành đóng tầu thủy, còn lại hầu như việc dành vốn đầu tư xây dựng một số nhà máy cơ khí lớn quan trọng không có, dẫn đến tình trạng thiếu máy, công nghệ mới, thiếu kỹ sư và cán bộ đầu ngành có chuyên môn thiết kế, công nghệ cơ khí hiện đại, đòi hỏi kiến thức liên ngành " Cơ -Tin - Điện tử, Vật liệu mới "... là lẽ đương nhiên. Những người làm cơ khí nước ta rất đau khi Vinashin mặc dầu được nhà nước đàu tư, nhưng do sai phạm của lãnh đạo tập đoàn này cộng với bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu đã dẫn đến kết cục và hậu quả xấu cho toàn ngành cơ khí nước ta.

Có lẽ đây là những vấn đề cần được Chính phủ xem xét để chỉ đạo triển khai thực hiện Chiến lược phát triển cơ khí Việt Nam của Chính phủ và Kết luận của Bộ chính trị đã ban hành từ 2002, 2003 nhằm thúc đẩy xây dựng ngành cơ khí chế tạo Việt Nam trong giai đoạn 2011-2020. Có thể đặt ra vấn đề: Nếu nhà nước không gấp rút có một hệ thống chính sách đồng bộ cộng với một bộ máy thực thi có các chuyên gia am tường về chuyên ngành cơ khí để tư vấn giúp Đảng và Chính phủ  tổ chức cơ cấu lại hệ thống các doanh nghiệp cơ khí thuộc nhiều thành phần sở hữu nhằm liên kết hợp tác sản xuất và tham gia chuỗi sản phẩm cơ khí toàn cầu thì nước ta khó tự chủ để thực hiện công nghiệp hóa theo hướng phát triển bền vững thành công vào năm 2020.

Để ngành công nghiệp cơ khí nước ta có đủ điều kiện phát triển nhanh chóng cả về lượng và chất đảm bảo chiếm lĩnh thị trường trong nước và khu vực từ nay đến 2020. Đảng và Nhà nước ta cần có quyết sách lớn để đầu tư sức người, sức của xây dựng công nghiệp cơ khí của đất nước. Trong kế hoạch 2011-2020 Chính phủ cần tập trung lựa chọn lại một số sản phẩm cơ khí có thị trường, không nhất thiết phải là 8 nhóm như trước đây để đầu tư mạnh cho phần cốt lõi, đó là khu vực Cơ khí chế tạo, mà hiện nay đối với công nghiệp cơ khí được gọi là “công nghiệp phụ trợ”. Có như vậy chúng ta mới tạo nên được nội lực cho Cơ khí Việt Nam, tức là tạo nên cơ sở đổi mới từ công nghệ, trang thiết bị hiện đại, đào tạo nhân lực có trình độ… Cơ khí Việt Nam muốn tự chủ đảm nhận thực hiện được tiến trình CNH-HĐH đất nước theo lộ trình phát triển chung của các ngành kinh tế công nghiệp khác nhất thiết phải có “bàn tay đầu tư hữu hình của nhà nước” mới mong sống và phát triển được.

Nếu chỉ nhìn thấy hiện trạng và những khó khăn hiện nay, nhiều cấp, nhiều ngành cho rằng đầu tư cho cơ khí sẽ tạo gánh nặng cho kinh tế đất nước. Nhận thức như vậy chưa đầy đủ và thiếu tự tin. Chúng tôi xin dẫn chứng, sau 15 năm thực hiện công cuộc đổi mới kinh tế đất nước (1990-2005), một số ngành kinh tế, kỹ thuật. công nghiệp đã thu được những thành tựu to lớn đều có "bàn tay hữu hình" của Đảng và Nhà nước ta, cụ thể:

- Đối với nông nghiệp, từ chỗ thiếu lương thực, do có cơ chế chính sách đúng, có đầu tư thích đáng của nhà nước, cho nên Việt Nam đã có dự trữ lương thực và xuất khẩu gạo đứng thứ 2 thế giới.

- Đối với ngành Bưu chính viễn thông Việt Nam cũng đã có những thành tựu phát triển nhanh chóng. Kể từ 1993 đến nay, sau hơn 15 năm Việt Nam đã có được hệ thống các trang thiết bị hiện đại ngang tầm khu vực để cũng các nước khai thác dịch vụ đáp ứng nhu cầu trong nước và quốc tế. Chúng ta không bị tụt hậu trong lĩnh vực này, rõ ràng Bưu chính viễn thông Việt Nam đạt được trình độ tiên tiến như hiện nay là nhờ có chính sách cơ chế và nguồn đầu tư không nhỏ của nhà nước ta.

- Thế nhưng cũng thật đáng buồn có hai ngành công nghiệp luôn chiếm vị trí và tỷ trọng giá trị hàng đầu ở các nước công nghiệp phát triển là cơ khí và điện tử thì Việt Nam sau 15 năm qua ra sao?. Sản phẩm điện tử Việt Nam có thể nói là “sập”, còn cơ khí chế tạo thì “thất tán”, yếu kém nhiều hơn so với các nước khác.

Với những bằng chứng nêu trên sẽ càng khẳng định quyết tâm để nước ta đầu tư phát triển công nghiệp cơ khí chế tạo của đất nước như Chỉ thị kết luận của Bộ Chính trị và Quyết định của Chính phủ là rất đúng đắn thì mới mong đến 2020 nước ta mới trở thành nước công nghiệp. Nhưng tiếc thay những quyết định quan trọng nêu trên chưa đi vào cuộc sống.

Thông qua việc đầu tư phát triển các ngành năng lượng, giao thông vận tải, sản xuất vật liệu xây dựng, phát triển đô thị trong 10 năm qua cho thấy thị trường của công nghiệp cơ khí Việt Nam từ nay đến 2020 là rất lớn. Nhưng trên thực tế với những con số nhập siêu ngày một tăng hàng năm ở mức hàng tỷ USD đã cho thấy ở nhiều cấp, ngành quản lý nhà nước vẫn chưa thấy hết được giá trị quý báu này để tập trung khai thác và gìn giữ như các quốc gia phát triển đã và đang thực hiện . Thị trường không phải là yếu tố duy nhất, nhưng quan trong nhất để phát triển kinh tế nói chung và các ngành công nghiệp nói riêng. Để xác định được mục tiêu phát triển công nghiệp cơ khí, việc nghiên cứu nghiêm túc thị trường và dự báo thị trường sẽ là một trong những nội dung quan trọng đối với các nhà đầu tư và cơ quan quản lý kinh tế công nghiệp vĩ mô. Chúng ta có thể thấy ngành công nghiệp cơ khí VN có nhu cầu thị trường nội địa với trên 80 triệu dân (và sẽ còn có thể lên đê 100 triệu) là khá lý tưởng để công nghiệp cơ khí phát triển.

Thị trường của công nghiệp cơ khí nước ta là rất lớn, là thị trường mà nước ngoài rất thèm khát. Bởi theo quy hoạch tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước ta nêu trong chương trình các ngành kinh tế, công nghiệp nước ta trong 10 năm tới sẽ cần hang trăm tỷ USD. Trong số vốn đầu tư khổng lồ này liệu cơ khí Việt Nam sẽ chiếm được bao nhiêu hay lại để rơi vào tay nước ngoài như 10 năm đã qua? Đây là vấn đề hệ trọng của đất nước mà tất cả các cấp từ TW đến địa phương cần phải thông suốt và chịu trách nhiệm góp phần giảm nhập siêu và xây dựng lựng lượng sản xuất công nghiệp cơ khí của đất nước ta.

Để thấy độ lớn của nhu cầu sản phẩm cơ khí tính đến năm 2025, có thể gắn với số liệu định hướng xây dựng và phát triển của một số ngành công nghiệp chính yếu cần đầu tư thực hiện từ nay đến năm 2025 (số liệu chúng tôi tham khảo, có thể chưa chuẩn xác), đó là :

Với ngành điện.

- Nhiệt điện chạy than: Theo quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2006-2015 có xét đến năm 2025 với phương án cơ sở có 52 công trình nhiệt điện than phải đưa vào vận hành trong giai đoạn 2008-2015 với tổng công suất lắp đặt là 23.440 MW và giai đoạn 2016-2025 có 36 công trình nhiệt điện than với công suất lắp đặt lên đến 80.600 MW được đưa vào vận hành. Như vậy từ nay đến 2025, chúng ta cần 88 nhà máy nhiệt điện than công suất từ 100 đến 600 MW với tổng công suất lắp đặt lên đến 106.000 MW với vốn đầu tư khoảng 120 tỷ USD, trong đó tổng vốn đầu tư cho thiết bị cả 2 giai đoạn xấp xỉ 83 tỷ USD.

- Thủy điện: Đến năm 2025 Việt Nam cần đầu tư khoảng 75 nhà máy thủy điện công suất từ 30 – 1.200 MW với tổng công suất lắp đặt giai đoạn 2007 – 2015 là 11.931 MW, giai đoạn 2016 – 2025 là 8.974 MW, tổng cộng giai đoạn: 2007-2025 là 21.000 MW với tổng vốn đầu tư khoảng 25 tỷ USD, trong đó vốn đầu tư cho thiết bị xấp xỉ 10 tỷ USD. Như vậy, trong cả 2 giai đoạn, tổng vốn đầu tư cho năng lượng là 145 tỷ USD, trong đó vốn đầu tư cho thiết bị nhập khẩu là 93 tỷ USD.

Nhu cầu về các dây chuyền thiết bị cho vật liệu xây dựng và khai thác nhôm giai đoạn 2007-2015:

- Xi măng lò quay: Giai đoạn 2007-2015 cầu đầu tư trên 20 nhà máy với công suất khoảng 30 triệu tấn clanker, giai đoạn 2016-2025 cần đầu tư mới 15 triệu tấn clanker với tổng vống đầu tư khoảng 4 tỷ USD.

- Sản xuất Alumium: Tổng công suất cho lắp đặt giai đoạn 2007-2025 theo quy hoạch khoảng 15 triệu tấn với giá trị đầu tư thiết bị gần 10 tỷ USD.

Trên đây là ví dụ để minh họa, ngoài ra còn những ngành công nghiệp quan trọng khác như khai thác chế biến dầu khí, than, khoáng sản khác, giao thông vận tải (đóng, sửa chữa tầu biển, đường sắt, ôtô, xe máy…), hang hóa tiêu dung… liệu công nghiệp cơ khí VN sẽ có đủ nội lực làm được bao nhiêu % giá trị vốn đầu tư của các ngành công nghiệp và đảm bảo nhu cầu quốc kế dân sinh?  

Ngoài nhu cầu phát triển xây dựng các ngành khing tế công nghiệp và hạ tầng cơ sở, còn có một thị trường rất lớn nữa đối với cơ khí và điện tử, đó là nhu cầu các sản phẩm cơ khí phục vụ hang hóa tiêu dùng:

Nếu mức thu nhập bình quân là 700usd/người thì tổng nhu cầu của xã hội về sản phẩm cơ khí tiêu dùng trong gia đình người Việt Nam sẽ từ 3- 4tỷ Usd/năm.

Có nhiều ý kiến cho rằng dự báo này còn thấp. Hiện nay, chỉ tính nhu cầu mua sắm Ô tô và xe máy mỗi năm đã lên đến vài tỷ USD.

Tổng hợp hai khu vực từ nay đến năm 2015, nhu cầu sản phẩm cơ khí của toàn xã hội VN bình quân mỗi năm khoảng 8 - 10 tỷ USD .

Cho nên chỉ cần cơ khí trong nước được phát triển để đáp ứng được từ 45%-55% về doanh số nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước, thì những năm cuối thập kỷ này, sản phẩm cơ khí VN cũng phải đạt từ 5- 6 tỷ Usd/năm. Đó chính là thị trường lớn có nhiều tiềm năng đối với một quốc gia nói riêng và khu vực nói chung.

Căn cứ kế hoạch phát triển các ngành kinh tế và công nghiệp nước ta đến 2010, tầm nhìn 2020, chúng ta thấy rất rõ thị trường của ngành Cơ khí Việt Nam rất lớn.

Chúng tôi nghĩ rằng đã đến lúc lãnh đạo Đảng và nhà nước ta cần làm cho lãnh đạo các cấp các ngành nhận thức rõ việc đầu tư phát triển công nghiệp cơ khí chế tạo trong bối cảnh khó khăn hiện nay phải là ý chí quốc gia chứ không chỉ là ý muốn của giới doanh nhân và doanh nghiệp: 

Nếu nhà nước không tập trung dầu tư thích dáng xây dựng công nghiệp cơ khí chế tạo phát triển có đủ nội lực hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta sẽ mất thị trường trong nước, người việt nam lại bị đi làm thuê, bị nước ngoài áp bức bóc lột theo hình thức mới và mãi mãi Việt Nam sẽ không bao giờ trở thành nước công nghiệp vào 2020.

Đã đến lúc lãnh đạo Đảng và nhà nước ta cần cho làm rõ trách nhiệm các cơ quan quản lý nhà nước (kế hoạch đầu tư, công nghiệp, thương mại, tài chính, ngân hàng và lãnh đạo các địa phương) đã điều hành và ra các quyết định gì trong giai đoạn 2005 -2010 để nhiều công trình công nghiệp do vốn của ta đầu tư mà cơ khí trong nước lại không được làm nhiều mà nước ngoài chiếm phần lớn? Nếu không chỉ ra đích danh những yếu kém về kiến thức và sự vô cảm (chưa cần quy đến vì lợi ích cá nhân, cục bộ địa phương) của những vị bộ trưởng, tỉnh trưởng thì đất nước ta sẽ khó tự chủ thực hiện được sự nghiệp CNH –HĐH trước sự xâm lấn của nước ngoài đang bằng mọi cách tràn vào chiếm lĩnh thị trường VN. Có nghiêm khắc vạch ra những sai phạm của các cơ quan, người đứng đầu chịu trách nhiệm điều hành công nghiệp của chính phủ cũng như các Bộ trưởng khối kinh tế- công nghiệp, các vị đứng đầu các tỉnh thành giai đoạn 2005 -2010 để rút kinh nghiệm thì 5, 10 năm tới chúng ta vẫn vướng lại những sai phạm của các năm trước.

MỘT SỐ Ý KIẾN TƯ VẤN

1-    Trước hết Đảng và Chính phủ cần có chỉ đạo và đưa thành “kỷ cương, phép nước” để lãnh đạo các cấp, các ngành, các địa phương nhận thức đúng và đầy đủ vị trí và tầm quan trọng của việc xây dựng phát triển công nghiệp cơ khí Việt Nam trong tiến trình thực hiện CNH-HĐH đất nước. Đảng và Nhà nước ta cần thực hiện ngay việc chỉ đạo mang tính kỷ cương phép nước đối với lãnh đạo các cấp, các ngành từ trên cao đến cơ sở phải nghiêm túc thực hiện đúng, đầy đủ, sáng tạo tinh thần và nội dung Kết luận số 25-KL/TW, ngày 17-l0-2003. của Bộ Chính trị và Quyết định 186/20021QĐ-TTg, ngày 26-12-2002 của Thủ tướng Chính phủ về chiến lược phát triển công nghiệp cơ khí. Chính phủ luôn chỉ đạo việc tạo đơn hàng, đưa ra những điều kiện có lợi cho doanh nghiệp cơ khí trong nước là hết sức cần thiết trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.

2-    Câu hỏi dưới đây cần đặt ra: Liệu chúng ta có đủ nghị lực, quyết lâm và sáng tạo để tận dụng các điều kiện thuận lợi và vượt qua các thách thức khi đất nước đang bước vào cuộc chơi hội nhập kinh tế quốc tế? Khi có cuộc chơi WTO liệu có cần đến xây dựng công nghiệp cơ khí cho riêng Việt Nam nữa không?

Qua thực tiễn đã khẳng định chủ trương Chính phủ giao cho doanh nghiệp cơ khí Việt Nam nhiều đơn hàng, rồi làm tổng thầu xây dựng một số công trình công nghiệp hoặc tham gia chế tạo một phần thiết bị cho các công trình chuẩn bị đầu tư. Có như vậy Việt Nam mới thu được những lợi ích sau:

- Trước mắt nước là thu được nguồn tài chính tới trên 35- 40% giá trị đầu tư công trình của đất nước. Còn nếu nước ngoài làm tổng thầu như làm nhà máy nhiệt điện ở Quảng Ninh - Hải phòng hoặc Dung Quất..., Doanh nghiệp cơ khí Việt Nam phải đi làm thuê và chỉ thu được dưới 10% giá trị đầu tư công trình.

- Qua triển khai công việc chúng ta mới đào tạo nhanh được nguồn nhân lực có trình độ ngang tầm hoặc cao hơn khu vực để điều hành thực hiện các dự án tổ hợp công nghiệp sẽ ngày một nhiều để thực hiện tiến trình CNH-HĐH đất nước.

- Hàng vạn công nhân, cán hộ ngành cơ khí Việt Nam đã có việc làm và đời sống đảm bảo, từng bước giai cấp công nhân nước ta phát triển lực lượng để đảm bảo thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ xây dựng công nghiệp hóa đất nước. Chính phủ cần có chính sách, cơ chế tiếp tục tạo đơn hàng lớn cho cơ khí Việt Nam thực hiện lien tục từ nay đến 2020.

Rất tiếc, chúng ta chưa có điều kiện để thống kê so sánh xem tổng số vốn đầu tư cho một số dự án cơ khí trong 10 năm qua sẽ lớn hơn hay bé nhỏ hơn đối với những thất thoát, lãng phí, tham nhũng, phê duyệt các dự án sai trong vay vốn dựng cơ bản, làm nhà máy “mía đường”, đóng tầu cá “đánh bắt xa bờ”. . . Những người làm cơ khí trong ngành rất buồn khi Cơ khí được Đảng, Chính phủ cho là quan trong như vậy, mới được tạo cơ chế ưu đãi vài năm làm một số dự án. . ., thế rồi Cơ khí đã lại bị hạn chế vay ưu đãi, thậm chí còn bị báo chí viết một số bài làm giảm khí thế đang lên của ngành và chùn bước những doanh nghiệp đang cố gắng bứt phá đi lên. Chúng tôi nghĩ rằng đã đến lúc cần truy trách nhiệm xem những ai đang cản trở, thậm chí đang cản phá đầu tư phát triển ngành cơ khí, cản trở quyết định của Chính phủ và chỉ đạo của Bộ chính trị. Trong khi đó thì nhiều nơi lại đầu tư lãng phí, cho nhập khẩu nhiều thiết bị cơ khí hoặc kết cấu thép là sản phẩm chất lượng thấp tạo ra từ công nghệ lạc hậu của các nước mà vô cảm khi biết cơ khí trong nước đã chế tạo được. . .

3- Tiếp tục chọn lựa rút lại một số sản phẩm cơ khí chế tạo có giá trị cao trong 08 nhóm sản phẩm cơ khí trọng điểm để tập trung đầu tư, không nhất thiết trong 10 năm tới vẫn lấy 8 nhóm sản phẩm đã lựa chọn cách nay hàng chục năm trước. Cụ thể chỉ dùng vốn nhà nước tiếp tục phát triển công nghiệp đóng tầu trên cơ sở tái cơ cấu theo chỉ đạo của Chính phủ, lựa chọn sản phẩm trong chế tạo máy động lực và máy nông nghiệp, chế tạo biến áp, thiết bị điện, cụm và phụ tùng ôtô để đáp ứng nhu cầu trong nước và tham gia chuổi sản phẩm quốc tế. Việc khuyến khích phát triển công nghiệp phụ trợ của ngành cơ khí thực chất là phát triển cơ khí chế tạo cần có thêm sự chỉ đạo bằng cơ chế để có thể tiến tới sản xuất loạt lớn mới có hiệu quả khi hợp tác với các Hãng đặt hàng nước ngoài. Muốn phát triển nhanh cơ khí chế tạo, các doanh nghiệp cơ khí nước ta cần tranh thủ và tận dụng mọi khả năng để liên kết, hội nhập vào guồng sản xuất của các Tập đoàn, Hãng cơ khí chế tạo lớn mạnh trên thế giới để có thị trường xuất khẩu và tiếp nhận được công nghệ cơ khí chế tạo tiên tiến, hiện đại.

4- Do yếu tố khách quan, cơ khí đều phải có ở các Bộ, ngành, địa phương trong cả nước. Đó là lịch sử chỉ đạo xây dựng ngành theo mô hình kinh tế cũ để lại nên vẫn tồn tại cho đến nay cơ chế chủ quản các doanh nghiệp cơ khí. Hơn nữa bản thân ngành cơ khí Việt Nam vốn đã yếu, đầu tư khép kín công nghệ, sản phẩm chưa sản xuất loạt lớn .. lại bị chia tách, cát cứ theo chỉ đạo của cấp chủ quản, dẫn đến các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam thuộc sở hữu nhà nước rất khó hợp tác sản xuất, cạnh tranh không có lợi và đầu tư lại trùng lập gây lãng phí rất lớn. Chính vì vậy Đảng và Nhà nước cần sớm sắp xếp lại khối các doanh nghiệp cơ khí thuộc sở hữu nhà nước, bỏ cấp chủ quản để tạo sức mạnh liên kết, hợp tác đầu tư, sản xuất cho toàn ngành. Mọi doanh nghiệp cơ khí đều hoạt động bình đẳng theo Luật Doanh nghiệp đã ban hành. Nhanh chóng cổ phần hóa các doanh nghiệp vốn 100% của nhà nước theo đánh giá đúng với giá thị trường và có hệ số ưu đãi với ngành sản xuất khó khăn này. Đặc biệt cần thiết phải có một cơ quan trực thuộc đủ Chính phủ có đủ điều kiện pháp lý để chăm lo xây dựng, quản lý theo quy hoạch, nghiên cứu chính sách, cơ chế, kiểm tra việc sử dụng vốn nhà nước nhập khẩu các sản phẩm, công nghệ cơ khí… để thường xuyên phối hợp với Hiệp hội Doanh nghiệp cơ khí Việt Nam giúp Thủ tướng, giúp Chính phủ về công nghiệp cơ khí của đất nước.

Giống như các nước công nghiệp phát triển và các nước công nghiệp đang phát triển, Chính phu luôn thông qua ý kiến của các Hiệp hội ngành hàng để ban hành các cơ chế chính sách có lợi hoặc và bảo vệ, xây dựng thị trường cho ngành hàng mà Chính phủ cần quan tâm, có lẽ nước đã đến lúc phải làm theo họ thì mới hiệu quả. Nhà nước cần tạo điều kiện về cơ chế để cộng đồng doanh nghiệp cơ khí trong nước cùng nhau xây dựng Hiệp hội ngành hàng có đủ điều kiện pháp lý để bảo vệ thị trường trong nước, bảo vệ doanh nghiệp sản xuất, tư vấn về chính sách thuế, xuất nhập khẩu, đầu tư. Không nên tiếp tục để các Bộ, Sở, Ủy ban nhân dân các tỉnh thành… tiếp tục chủ quản các doanh nghiệp có vốn nhà nước nữa nhằm giảm cơ chế xin – cho và đưa ra những con số “đẹp” để báo cáo. Điều này phù hợp với sự hoàn thiện vận hành nền kinh tế thị trường như các nước khác và góp phần “Cải cách hành chính” loại bỏ “Cơ chế Xin – Cho” đang hoành hành khắp nơi ở nước ta. Nếu tôi không nhầm, có lẽ trên thế giới rất ít nước còn tồn tại một cơ quan Kế hoạch – đầu tư như nước ta. Việc này là công việc của Bộ tài chính và các Bộ kinh tế khác chia sẻ đảm nhận trước Chính phủ và Quốc hội. Nếu nước ta còn tiếp tục để hệ thống “Kế hoạch đầu tư từ TW đến địa phương” như hiện tại thì việc

5- Theo chúng tôi, nguyên nhân của mọi nguyên nhân dẫn đến thành, bại trong việc phát triển nhanh hoặc chậm, xây dựng được hoặc không được cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại cho ngành cơ khí của đất nước trong tình hình hội nhập kinh tế đều do công tác lựa chọn đúng đội ngũ cán bộ có đức, có tài quyết định. Có thể nói, nhìn tổng thể hiện tại đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý và bộ máy chỉ đạo cơ khí ở doanh nghiệp vẫn còn nhiều bất cập chưa đáp ứng được đòi hỏi của tình hình mới. Đã đến lúc Đảng và Nhà nước phải nhanh chóng tổ chức lại hệ thống các doanh nghiệp cơ khí hình thành các liên kết mới theo nguyên tắc chuyên môn hóa sâu, hợp tác hóa rộng và trở thành một bộ phận của công nghiệp cơ khí thế giới, bỏ hình thức chủ quản.

6- Nhà nước cần có chính sách đãi ngộ, thưởng phạt nghiêm minh đối với những cá nhân, tập thể có công, có tội trong ngành cơ khí theo quy định của Luật pháp. Mặt khác xã hội đang phê phán việc phong và cấp học vị Tiến sĩ, phó GS, GS quá nhiều và kiến thức chuyên môn của những người được phong tặng không đạt so với trình độ chung của quốc tế. Đến bằng đại học do Trường ta cấp đi làm ở nước ngoài cũng chưa được công nhận. . .Vậy nhưng một số chức danh rất quan trọng đối với sản xuất công nghiệp, trong đó có cơ khí là các chức danh Kỹ sư trưởng, Công trình sư , Tổng công trình sư thì lại không có. Các chức danh đó giành cho các kỹ sư giỏi trong chỉ đạo chế tạo sản phẩm máy móc, trong điều hành quản lý, chỉ huy các công trình, dự án công nghiệp quan trọng. Tại các nước công nghiệp, đối với ngành cơ khí chế tạo đều có chức danh nêu trên và thường là những người có kiến thức chuyên môn giỏi nhiều mặt, họ sẽ là người có trình độ để điều hành, giao việc cho rất nhiều Tiến sĩ, Giáo sư thực hiện các lĩnh vực chuyên môn riêng trong một công trình công nghiệp.

7- Đề xuất cơ cấu sản phẩm chính yếu của cơ khí chế tạo Việt Nam và một số công trình cơ khí đầu tư mới trong giai đoạn 2011-2020. Điều chỉnh một số chính sách giúp cơ khí Việt Nam phát triển:

a) Để tạo bước phát triển mạnh và hiệu qủa cho cơ khí chế tạo Việt Nam, cần thiết xây dựng một trung tâm cơ khí nặng tại miền Bắc đủ sức để chế tạo sữa chữa các thiết bị lớn như: thiết bị quay của xi măng, tua bin thuỷ và nhiệt điện, chế tạo thiết bị siêu trường, siêu trọng cho công nghiệp hoá chất, dầu khí, phân đạm và các sản phẩm cơ khí giao thông quan trọng khác như cầu lớn, làu hoả, máy mỏ, máy xây dựng. Có thể đầu tư chia nhiều giai đoạn và có sự phối hợp với các nhà máy cơ khí loại trung như Cơ khí Hà Nội, Cơ khí Trung tâm Cẩm Phả để hoàn thiện hệ thống chế tạo may lớn cho cả nước. Không nên chỉ trông chờ và khai thác một số may công cụ đã có tại Cty cơ khí Hà Nội, Cơ khí Cẩm Phả. Tại Miền Nam hiện Cơ khí chế tao yếu hơn Miền Bắc nhiều, cho nên Chính phủ cần có chủ trương giao cho lực lượng công nghiệp quốc phòng xây dựng một nhà máy cơ khí lớn để vừa đảm bảo nhiệm quốc phòng và phát triển kinh tế (Đề án di dời các nhà máy quốc phòng trong nội đô To Hồ Chí Minh ra khu Long Bình- Đồng Nai).

Bên cạnh 02 dự án đầu tư cơ khí lớn nêu trên, Chính phủ cũng cần phê duyệt và tạo nguồn tài chính cho đầu tư một số dự án chế tạo những sản phẩm cơ khí trọng điểm đã có nhu cầu đáp ứng quá trình CNH-HĐH đất nước.

b) Để chủ động và không tụt hậu, đồng thời để giám sát việc nhập khẩu công nghệ, thiết bị lạc hậu của nước ngoài tràn vào nước ta, Chính phủ cho xây dựng mới hoặc đầu tư nâng cấp các Viện thiết kế hiện có của Bộ Công nghiệp, BỘ Xây dựng, Bộ GTVT (công nghiệp đóng tàu biển, mô, máy công cụ...) trở thành các Viện đầu ngành vừa làm nhiệm vụ R&D và thực hiện hoạt động tư vấn thiết kế trong một số lĩnh vực cơ khí đáp ứng nhu cầu phát triển cơ khí cho cả nước. Chính các cơ quan nghiên cứu chế tạo máy này sẽ vừa làm công cụ thiết kế sản phẩm mới cho các Doanh nghiệp. vừa làm cầu nối để doanh nghiệp cơ khí Việt Nam có chiến lược phát triển sản phẩm gắn với thị trường của các Tập đoàn, các Hãng cơ khí lớn trên thế giới.

c) Để đầu tư phát triển công nghiệp cơ khí Việt Nam từ nay đến 2020 có đủ nội lực và tính toán của một quốc gia đang còn nghèo, Chính phủ cần sớm ban hành ngay Quy hoạch đần tư phát triển đối với một số sản phẩm cơ khí trọng điểm như đóng tàu thủy, lắp ráp ôtô, chế tạo thiết bị đồng bộ, sản xuất máy động lực & máy nông nghiệp, Thiết bị kỹ thuật điện… theo vùng lãnh thổ trong cả nước để định hướng phát triển các doanh nghiệp cơ khí vừa và nhỏ thuộc nhiều thành phần kinh tế, đồng thời tránh đầu tư trùng lặp gây tổn thất cho nền kinh tế. Trước mắt cần ban hành ngay với đóng tầu thủy, lắp ráp mô.

d) Xây dựng và ban hành quy chế chỉ định thầu, chọn thầu các công trình công nghiệp lớn không trái với những quy định trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế để tạo đơn hàng cho cơ khí nước nhà. Việc làm này hết sức quan trọng và cần thiết để tạo thị trường cho công nghiệp cơ khí Việt Nam phát triển. Nhà nước cần có cơ chế tín dụng cho nông dân, đơn vị dịch vụ vận tải... được vay ưu đãi để nông dân và các doanh nghiệp mua sử dụng sản phẩm cơ khí chế tạo trong nước.

 e) Có lẽ vấn đề vốn đầu tư và vốn lưu động, thuế suất đối với vật tư, thiết bị bà sản phẩm của cơ khí cũng là vấn đề đang cản trở cho cơ khí đất nước phát triển cũng là một vấn đề cần được Chính phủ xem xét. Không có một quốc gia nào trên thế giới lại để các doanh nghiệp sản xuất cơ khí vay với lãi suất cao như ở nước ta. Thông thường các nước chỉ cho doanh nghiệp của họ vay với lãi suất từ 5 đến 6%/năm, có vậy doanh nghiệp mới trụ được để duy trì sản xuất.

Còn một vấn đề rất quan trọng và nặng nề là hầu như nguyên vật liệu sản xuất của ngành cơ khí đều phụ thuộc nước ngoài, muốn sớm từng bước khắc phục khó khăn này là vấn đề của các nhà sản xuất thuộc ngành thép nên chúng tôi chưa có điều kiện nghiên cứu để phát biểu. 

 Trên đây là một số ý kiến tư vấn để các cấp quản lý nhà nước đối

 với ngành cơ khí và Chính phủ tham khảo nghiên cứu ./.

( Theo vami.com.vn)

Nguồn tin:

Các bài khác:

Hỗ trợ trực tuyến
Nguyễn Ngọc Tân
0904191020
Vũ Khắc Quân
0904867626
Lều Văn Chương
0903480083
Trần Liên
0902165365
Đỗ Hồng Chuyên
0903489468
Nguyễn Văn Xuân
0904838468
Hotline :

0903446042

bando